|
|
Giăng 9:13-17, 34-39 24/02/2008 Giảng Luận
Chúng Ta Hãy Thờ Lạy Chúa Jêsus
1. Ngài ban cho người mù sáng mắt (13-17) 2. Ngài ban cho người ánh sáng trong lòng (35-38)
Gia đình yêu quí thấy được về phương diện tâm linh, qua lòng thương xót của Đức Chúa Jêsus;
Bạn có nghĩ đến khả năng nhìn lần nào chưa? Khi nào bạn với tay qua bàn lấy kính, có thể nghĩ đến. Nếu bạn dùng mắt kiếng đeo trong mắt, chắc nghĩ đến. Vài người đã chịu mổ mắt để thấy rõ hơn, điều đó cho thấy khả năng nhìn rất quan trọng. Trong Lời của Chúa sáng nay, chúng ta có cơ hội thấy Chúa Jêsus dùng khả năng nhìn để tự tỏ bày Chính Ngài là Ánh Sáng của thế gian. Ngài ban cho người mù sáng mắt; nhưng Ngài cũng ban cho mọi người ánh sáng trong lòng.
Tôi xin giải thích một số điều đã xảy ra trước khi chúng ta học chung với nhau. Cả đoạn này cho chúng ta biết về một người mù mà Chúa Jêsus đã chữa lành. Một hôm, Chúa Jêsus đi với các môn đồ và gặp một người mù. Nhiều người đã nghĩ là những người tàn tật bởi vì người ta hay cha mẹ của người ta đã phạm tội. Nhưng Chúa Jêsus đã mở đôi mắt của các môn đồ Ngài để nhận ra sự đau khổ là một cơ hội để thấy việc và quyền của Chúa.
Rồi, Chúa chữa lành người mù. Theo mọi bước của sự hướng dẫn của Chúa đòi hỏi đức tin, mà Ngài đã làm lớn mạnh hơn.
Phép lạ này đã tạo nên nhiều sự kích động. Người ta hỏi người đã được chữa lành: ai đã làm phép lạ đó. Anh ấy trả lời—nói thẳng, nhưng chưa hiểu rõ Ngài là ai. Khi chúng ta tự nhủ về câu hỏi này, “Ngài là Ai;” chúng ta nhận ra là Chúa Jêsus là Ánh sáng của thế gian và Ngài dẫn chúng ta đến việc mà người đã được chữa lành đã làm: chúng ta hãy thờ lạy Chúa Jêsus. Chúng ta tập trung vào Lời của Chúa trong Phúc Âm Giăng, đoạn 9, bắt đầu từ câu 13:
“Họ dẫn người vốn bị mù đến các người Pha-ri-si. Hôm Đức Chúa Jêsus hòa bùn chữa cho người nầy sáng mắt là ngày Sa-bát.
Chắc là mấy ngày sau khi người mù đã nhận được khả năng nhìn thấy, vài người dẫn ông ấy đến với các người Pha-ri-si. Người Pha-ri-si là một nhóm người trong dân Do Thái không tin vào điều gì khác thường—thí dụ; các người Pha-ri-si không tin vào các thiên sứ, phép lạ, hay Nước Trời. Nhóm người Pha-ri-si không tin tưởng nơi Chúa Jêsus, và thường bỏ hết sức để làm Ngài mất thể diện.
Người Pha-ri-si lại chất vấn: “Sao anh thấy được?” Anh ta trả lời: “Ông ấy bôi bùn lên mắt tôi, tôi đi rửa sạch thì thấy được!” “Lại chất vấn,” có nghĩa là đây không phải là lần đầu tiên mà người mù phải trả lời câu hỏi này. Chắc chắn là bạn bè và hàng sớm cũng đã hỏi—có thể nhiều lần rồi—vì việc lạ lùng này đã xảy ra cho anh ấy. Câu trả lời của anh ấy dễ hiểu. Anh ấy chỉ nói thật về việc này.
Một vài người trong nhóm Pa-ri-si liền nói: “Người nầy không thể nào đến từ Đức Chúa Trời vì đã không kiêng giữ ngày Sa-bát.”
Như chúng ta còn thấy hiện nay cũng trong hoàn cảnh của người mù này, những người khác có ý kiến khác nhau về lời nói và công việc của Chúa Jêsus. Một mặt, vài người đã nghĩ là những luật mà dân Do Thái đã tạo nên, như mấy điều răn mà họ đã thêm về Ngày Sa-bát công bằng với mười điều răn của Chúa. Người ta đã nghĩ là không bao giờ một người làm việc trong ngày Sa-bát có thể từ Chúa mà ra. Vì vậy, người ta không tin là Chúa Jêsus đã làm phép lạ này. Họ nghi ngờ Ngài.
Mặt khác, vài người đã chấp nhận sự thật của phép lạ này mặc dù đã thực hiện trong ngày Sa-bát. Họ đã nhận ra quyền năng của Chúa Jêsus. Kết luận cho chúng ta nghĩ đến tác động trong mọi người qua Lời giảng và các phép lạ của Ngài. Rất giống như một người Pha-ri-si, mang tên là Ni-cô-đem đã nói mấy đoạn trước đây: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến, vì những dấu lạ Thầy làm nếu không có Đức Chúa Trời ở cùng thì không ai làm được.” Nhưng bởi vài các người Pha-ri-si không đồng ý với nhau, họ đến hỏi người đã được chữa lành một lần nữa.
Nhưng một số người khác lại lý luận: “Làm sao một người có tội có thể làm dấu lạ như vậy được?” Thế là họ chia phe chống nhau. Vậy nên những người Pha-ri-si vặn hỏi người mù một lần nữa: “Theo anh thì người đã chữa cho mắt anh sáng là ai?” Anh ta đáp: “người ấy phải là một vị tiên tri của Chúa.”
Chúng ta cần nhớ người mù này chỉ là một người ăn xin. Nhưng anh ấy làm chứng trước mặt họ về phép lạ mà Chúa Jêsus đã làm. Anh ấy đã nhận ra điểm mà Ni-cô-đêm đã nói trước: nếu không có Đ.C.T. ở cùng, thì không ai làm được. Đây là một người vô học có thể thấy rõ ràng sự kiện mà nhiều người giáo sư và những học giả không thấy hay nhận ra. Cho chúng ta xem xét lại . . . ai là người mù? Những ai . . . là người không thấy được?
Sao đó, các người Pha-ri-si đến với ba má của người đã được chữa lành. Ba má của người ấy sợ các người Pha-ri-si nên nói là họ không biết. Rồi, các người Pha-ri-si đến với người đã được chữa lành lần thứ 3! Họ nói xấu về Chúa Jêsus và sỉ nhục người ăn xin. Anh ấy trở nên tự tin vì anh ấy biết việc gì đã xảy ra. Cuối cùng, anh ấy trả lời: “nếu không có Đức Chúa Trời ở cùng thì không ai làm được gì cả.”
Họ đáp: “Mầy sinh ra tội lỗi đầy mình mà còn đòi dạy khôn chúng ta sao?” Rồi họ đuổi anh đi.
Bởi vì lý lẽ không vững, nhóm người Pha-ri-si phải sử dụng đến lời xỉ vả tự cao tự đại. Họ giận giữ lắm vì họ nghĩ là người đầy tội lỗi này dám dạy cho họ nghe. Trong việc này, các người Pha-ri-si cho thấy là họ là nhóm người mù—không nhận ra là Chúa Jêsus đã làm phép lạ đó. Họ đuổi anh ấy ra. Việc này họ cũng bỏ anh ấy rời khỏi đạo Do Thái. Chúng ta cũng thấy thái độ này hiện nay trong vòng người không chịu nghe và không chịu tin. Họ nghĩ đến bắt cứ lý do nào mà họ không tin, có thể phải sử dụng đến lời xỉ vả hay bạo lực. Chúng ta không mong chờ điều gì khác từ người mù về phương diện tâm linh.
Đức Chúa Jêsus nghe họ đuổi anh đi, nên tìm anh hỏi: “Anh có tin Con Người không?”
Mặc dù các người Pha-ri-si bỏ anh ấy và đuổi anh ấy đi , Chúa—Đấng Chăn Chiên Nhân Từ đã tìm thấy anh ấy để làm trọn vẹn việc mà Ngài đã bắt đầu làm trong lòng của người ấy. Lần này, Chúa Jêsus đến với người này, không phải để ban cho anh ấy sáng mắt; nhưng để ban cho anh ấy khả năng nhìn tâm linh.
Bởi vì đức tin là cá nhân và phải có mối quan hệ với Đấng Cứu Thế, Chúa Jêsus hỏi anh ấy câu hỏi rất quan trọng: “Anh có tin Con Người không?” Ngài đã dùng danh này “Con Người” để nhấn mạnh là Ngài là Chúa thực sự và con người thực sự.
Anh ta đáp: “Thưa ông, Con Người là ai để tôi tin?” Đức Chúa Jêsus bảo: “Anh đã thấy Con Người tận mắt và Người đang nói với anh đây chính là Đấng ấy!” Người ấy nói: “Lạy Chúa, con tin!” rồi thờ lạy Ngài.
Rất giống như người đàn bà Sa-ma-ri mà chúng ta đã nghe trong giảng luận tuần rồi, người đàn ông này có đức tin nhưng chưa hiểu biết hoàn toàn. Anh ấy muốn biết thêm nên hỏi thêm. Chúa Jêsus hướng dẫn anh ấy tách rời khỏi ý kiến là Ngài chỉ là một nhà tiên tri hay một người tốt đến sự hiểu biết là Ngài là Đấng Christ—Con Đức Chúa Trời—Đấng Chuộc Tội.
Bây giờ đôi mắt của anh ấy được mở ra để tin là Người đang nói chuyện với anh ấy là người đã làm phép lạ chữa lành anh. Anh ấy nhận ra là Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế. Sự hiểu biết này cho anh ấy thờ lạy Ngài. Sự không nhìn thấy của anh ấy đã kết luận và khả năng thấy tâm linh. Kết quả là việc tôn thờ Chúa.
Đức Chúa Jêsus phán: “Ta đến để xét đoán thế gian: Khiến người mù sáng mắt, còn kẻ mắt sáng hóa nên mù lòa!”
Câu này Chúa dùng một sự ngược đời để làm áp dụng cho đời sống của anh ấy, chúng ta, và mọi người. Ngài nói với người trước là người mù, nhưng cũng nói với các môn đồ của Ngài và các người Pha-ri-si nữa. Ngài dạy về sự mù tâm linh và khả năng thấy tâm linh. Chúa Jêsus dạy khi Ngài đã hiện đến thế gian này, có kết quả 2 bên hoàn toàn khác nhau. Vài người mà Chúa cho nhận ra là mù, tin nhận Đấng ấy và nhận được khả năng thấy tâm linh còn đến lâu dài. Vài người không nhận ra là họ là mù, khoe khoang là họ thấy rõ rằng. Người ta không chịu tin vào Ngài và sự không thấy của họ còn lại.
Mọi người từ trong bụng mẹ là mù về phương diện tâm linh bởi vì bản chất tội lỗi. Nhưng Chúa Thánh Linh ban khả năng tâm linh qua ân sủng của Ngài—qua Lời của Chúa, phép Báp-têm và Tiệc thánh. Bởi ân sủng của Ngài, nhiều người thấy và tin nhận Đấng Christ là Đấng Chuộc Tội và được cứu. Những người khác không tin, và vì sự vô tin của họ, bị đoán phạt.
Chúng ta có cơ hội để làm chứng là Chúa Jêsus là Ánh Sáng của thế gian và cho đời mình. Chúng ta có cơ hội để làm chứng cho người trong gia đình, bạn bè, người làm chung, là Chúa Jêsus là Ánh sáng cho đời sống trong thế gian đầy sự tối tăm của tội lỗi, người ác, và sự chết. Chúa hứa một cuộc sống đầy dẫy ánh sáng của Ngài và sự sáng của cuộc sống đời đời trên thiên đàng. Như Chúa mô tả dân Ngài, “Nhưng anh chị em là dân tộc được lựa chọn, vị tế lễ của hoàng gia, một dân thánh, con dân thuộc về Đ.C.T. để anh chị em rao truyền các công việc lạ lùng của Ngài là Đấng đã kêu gọi anh chị em ra khỏi chốn tối tăm để vào nơi sáng láng diệu kỳ của Ngài.”
Chúa tiếp tục soi dẫn chúng ta qua Lời Ngài để chúng ta có lòng cảm tạ ơn Ngài và, như anh ấy, thờ lạy Chúa. Xin Chúa mở đôi mắt của chúng ta càng ngày càng nhiều hơn nữa để chúng ta đủ sức hiểu “thấu chiều rộng, chiều dài, chiều cao và chiều sâu của tình yêu của Chúa và biết được tình yêu của Chúa Jêsus Christ siêu việt hơn tri thức, để anh chị em đầy dẫ mọi sự sung mãn của Đ.C.T.”
Xin Chúa luôn luôn giữ đôi mắt chúng ta chăm chú hướng về Chúa Jêsus và suốt đời thờ lạy Ngài bằng mọi lời nói và hành động của mình. Cầu xin Chúa ban cho nhiều người khả năng thấy về phương diện tâm linh. Xin Chúa mở đôi mắt đức tin của nhiều người hơn nữa trong cộng đồng của chúng ta, để nhiều người trong cộng đồng Việt Nam ở tiểu bang Idaho, trong cả Nước Mỹ, và trong thế gian được cứu! Chúng ta hãy thờ lạy Ngài sáng nay và mãi mãi! A-men và a-men!
|
|